Bỏ hay giữ cơ quan điều tra VKSNDTC: Nên trao quyền lựa chọn cho người tố giác

Nguồn hình ảnh, Getty Images
- Tác giả, LS Phùng Thanh Sơn
- , Gửi tới BBC News Tiếng Việt từ TP HCM
- Được đăng
- Thời gian đọc: 13 phút
Sau một thời gian im ắng, Bộ Công an lại tiếp tục đề xuất bỏ cơ quan điều tra của Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao, chuyển toàn bộ thẩm quyền điều tra các tội xâm phạm hoạt động tư pháp sang cơ quan an ninh điều tra.
Nếu đề xuất trong dự án Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự (sửa đổi) được Quốc hội thông qua, Việt Nam sẽ chỉ còn hai cơ quan điều tra của Bộ Công an và Bộ Quốc phòng.
Cơ quan soạn thảo là Bộ Công an cho biết trong hơn chín năm, từ ngày 1/1/2018 đến 31/3/2026, cơ quan điều tra của Viện Kiểm sát xử lý 390 vụ án với 700 bị can, chỉ chiếm khoảng 0,04% tổng số hoạt động điều tra trên cả nước.
Đây là một trong những căn cứ để cơ quan soạn thảo cho rằng việc duy trì một cơ quan điều tra riêng biệt, với quy mô hoạt động rất nhỏ, là không cần thiết và tạo ra sự cồng kềnh, chồng chéo trong hệ thống.
Cuộc tranh luận vì vậy đang diễn ra theo đúng hai thái cực: hoặc giữ nguyên CQĐT VKSNDTC như hiện nay, hoặc chuyển toàn bộ thẩm quyền sang một đầu mối duy nhất là an ninh điều tra.
Là người trực tiếp tham gia tố tụng ở nhiều vụ án, tôi cho rằng cách đặt vấn đề này đang bị lệch trọng tâm.
Câu hỏi không nên là "giữ hay bỏ cơ quan điều tra VKSNDTC", mà phải là: làm thế nào để người dân có cơ hội tiếp cận một cơ chế điều tra khách quan, hiệu quả và đáng tin cậy nhất khi tố giác hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp?
Từ góc nhìn đó, tôi cho rằng phương án tối ưu không phải là chuyển thẩm quyền từ cơ quan này sang cơ quan khác, mà là duy trì đồng thời cả cơ quan điều tra Viện Kiểm sát NDTC lẫn trao thẩm quyền tương tự cho Cơ quan An ninh điều tra, và quan trọng nhất: cho phép người tố giác được quyền lựa chọn nơi gửi đơn.
Vừa đá bóng vừa thổi còi

Nguồn hình ảnh, Cơ quan điều tra Viện Kiểm sát nhân dân tối cao
Những người ủng hộ mô hình hiện hành thường lập luận rằng cơ quan điều tra VKSNDTC là thiết chế cần thiết để kiểm soát quyền lực tư pháp, chuyên trách điều tra sai phạm của chính những người tiến hành tố tụng: kiểm sát viên, điều tra viên, thẩm phán, chấp hành viên.
Lập luận này có phần đúng, nhưng bỏ qua một thực tế quan trọng: cơ quan điều tra Viện KSNDTC không phải một thiết chế độc lập đứng ngoài hệ thống VKSNDTC.
Cơ quan này vẫn thuộc VKSNDTC, vẫn chịu sự quản lý, chỉ đạo trong cùng một hệ thống tổ chức.
Trong khi đó, chính VKSNDTC lại là cơ quan thực hiện chức năng kiểm sát đối với hoạt động điều tra của CQĐT VKSNDTC.
Nói cách khác, đây là cơ chế kiểm soát nội bộ trong cùng một hệ thống, chứ chưa phải là sự kiểm tra chéo thực sự giữa các nhánh quyền lực khác nhau.
Lo ngại "giao cho công an điều tra thì công an sẽ nương tay với người của mình" là có cơ sở, nhưng ngược lại "giao cho cơ quan điều tra VKSNDTC thì vẫn là người trong ngành kiểm sát điều tra người trong ngành kiểm sát" cũng hoàn toàn có cơ sở lo ngại tương tự.
Không thể mặc nhiên cho rằng mô hình hiện nay khách quan hơn chỉ vì tên gọi của cơ quan điều tra khác với tên gọi của cơ quan bị tố giác.
Tính khách quan của một cơ chế điều tra phụ thuộc vào cơ chế giám sát, trách nhiệm giải trình, và khả năng kiểm tra chéo giữa các chủ thể chứ không phụ thuộc vào việc cơ quan đó mang tên "điều tra" hay "an ninh điều tra".
Niềm tin của người dân mới là thước đo
Một mô hình tố tụng, dù được thiết kế chặt chẽ đến đâu trên giấy tờ, cũng chỉ thực sự có ý nghĩa khi người dân tin tưởng và sử dụng nó.
Trong thực tiễn hành nghề, tôi từng gặp không ít trường hợp người tố giác trình bày rõ ràng các dấu hiệu của nhóm phạm xâm phạm hoạt động tư pháp như: lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt, giữ, giam người trái pháp luật; tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội; tôi ra bán ản, quyết định trái pháp luật;... nhưng đơn không được thụ lý, xác minh theo đúng trình tự mà Bộ luật Tố tụng hình sự quy định.
Thay vào đó, đơn thường bị xem như một khiếu nại trong tố tụng thông thường, và lập luận quen thuộc là: tòa án chưa xét xử sao biết là không phạm tội mà tố cáo?
Vấn đề là trên thực tế, để một tòa án tuyên một bị cáo không phạm tội gần như là chuyện hiếm như mò kim đáy biển.
Ở phần lớn những vụ án có dấu hiệu oan sai mà tôi từng tiếp cận, kết cục thường là tòa tuyên mức hình phạt vừa đúng bằng thời gian bị cáo đã bị tạm giam.
Từ bản án có hiệu lực pháp luật đó, cơ quan chức năng lại có cơ sở để kết luận rằng không có việc truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội.
Cái vòng luẩn quẩn này khiến hành vi có dấu hiệu vi phạm của người tiến hành tố tụng gần như không bao giờ bị xem xét đến cùng.
Tôi không có số liệu thống kê chính thức để khẳng định đây là hiện tượng phổ biến trên diện rộng.
Nhưng từ chính những vụ việc tôi trực tiếp theo đuổi, tôi cho rằng khi người tố giác không có bất kỳ kênh nào khác ngoài việc gửi đơn cho đúng cơ quan mà, xét về mặt hệ thống, có liên quan gián tiếp đến chính đối tượng bị tố giác, thì niềm tin vào tính khách quan của quy trình xử lý khó có thể được bảo đảm trọn vẹn.
Đó chính là lý do vì sao cần có thêm một kênh tiếp nhận, xử lý độc lập khác.
Cần đa cơ quan có thẩm quyền, người dân được lựa chọn
Đối với nhóm tội xâm phạm hoạt động tư pháp, pháp luật hoàn toàn có thể thiết kế theo hướng: người tố giác được quyền gửi đơn đến một trong hai cơ quan hoặc cơ quan điều tra VKSNDTC hoặc Cơ quan An ninh điều tra có thẩm quyền tương ứng.
Sau khi một cơ quan đã thụ lý, cơ quan còn lại không được điều tra song song mà phải tôn trọng thẩm quyền đã được xác lập, nhằm tránh chồng chéo hoặc "kéo co" hồ sơ.
Mô hình này, về bản chất, tạo ra một dạng cạnh tranh lành mạnh về uy tín và chất lượng phục vụ giữa các cơ quan nhà nước: cơ quan nào giải quyết tố giác nhanh, khách quan, đúng bản chất sẽ nhận được sự tin tưởng và nhiều đơn tố giác hơn.
Đây là cơ chế kiểm soát quyền lực mềm nhưng có thể phát huy hiệu quả rất thực chất, bởi nó không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của cơ quan quản lý mà phụ thuộc trực tiếp vào lựa chọn của người dân.
Quan trọng hơn, khi tồn tại nhiều hơn một đầu mối tiếp nhận, người tố giác sẽ không còn ở thế buộc phải phụ thuộc tuyệt đối vào một cơ quan duy nhất.
Nếu người dân mất niềm tin vào cách một cơ quan xử lý vụ việc, họ vẫn còn cơ hội tìm đến cơ quan khác.
Điều này đặc biệt có ý nghĩa với các tội danh nhạy cảm như làm sai lệch hồ sơ vụ án, ra bản án trái pháp luật, không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội, hay bức cung, dùng nhục hình...
Xử lý khi kết quả điều tra bị nghi ngờ hoặc khi hai cơ quan bất đồng
Mô hình đa trung tâm chỉ thực sự có ý nghĩa nếu giải quyết được câu hỏi: nếu người tố giác không đồng ý với kết quả mà cơ quan đã chọn đưa ra.
Ví dụ quyết định không khởi tố hoặc đình chỉ điều tra thì họ có được yêu cầu cơ quan còn lại tiếp tục điều tra hay không, và nếu có, xử lý thế nào khi hai cơ quan đưa ra hai kết luận khác nhau?
Theo tôi, câu trả lời không nên là cho phép điều tra song song hai lần từ đầu, vì điều đó vừa lãng phí nguồn lực, vừa có nguy cơ tạo ra hai kết luận cùng tồn tại, gây rối loạn cho quá trình tố tụng tiếp theo.
Thay vào đó, cơ chế hợp lý hơn là:
Thứ nhất, khi cơ quan đã thụ lý ra quyết định không khởi tố hoặc đình chỉ điều tra, quyết định đó phải kèm văn bản nêu rõ lý do và được gửi cho người tố giác.
Nếu không đồng ý, người tố giác có quyền đề nghị cơ quan còn lại (cơ quan chưa từng thụ lý vụ việc) thẩm định lại tính có căn cứ của quyết định đó, tức là rà soát hồ sơ đã có để đánh giá xem việc không khởi tố hay đình chỉ có bỏ lọt chứng cứ hoặc vi phạm nghiêm trọng thủ tục hay không.
Đây là một bước rà soát trên hồ sơ sẵn có, khác về bản chất với việc mở một cuộc điều tra độc lập song song ngay từ đầu.
Thứ hai, nếu qua thẩm định, cơ quan còn lại xác định có căn cứ rõ ràng cho thấy quyết định ban đầu là sai, cơ quan đó kiến nghị hủy quyết định và đề nghị phục hồi điều tra.
Việc điều tra tiếp theo, từ thời điểm này, chỉ nên giao cho một cơ quan duy nhất tiếp tục thụ lý, thông thường là chính cơ quan vừa thực hiện việc thẩm định, để tránh giao lại toàn bộ vụ việc cho cơ quan đã bị đánh giá là ra quyết định thiếu căn cứ.
Cơ chế này vận hành gần giống vai trò phúc tra ngang cấp giữa hai hệ thống độc lập, khác với việc phúc tra trong cùng một ngành như hiện nay.
Thứ ba, để tránh tình trạng vụ việc bị đẩy qua lại vô thời hạn giữa hai cơ quan, pháp luật cần giới hạn: mỗi vụ việc chỉ được thẩm định độc lập một lần duy nhất, và một khi thẩm quyền điều tra đã được xác lập lại cho cơ quan thứ hai, cơ quan đầu tiên không còn quyền ra bất kỳ kết luận nào khác đối với vụ việc đó.
Việc này nhằm bảo đảm nguyên tắc chỉ có một cơ quan giữ vai trò thụ lý sau cùng.
Các lập luận muốn giữ nguyên hiện trạng không thuyết phục
Có ba lập luận thường được viện dẫn để bảo vệ việc duy trì độc quyền điều tra cho cơ quan điều tra VKSNDTC, nhưng theo tôi đều chưa thực sự thuyết phục:
Thứ nhất, có ý kiến cho rằng cơ quan điều tra VKSNDTC là thiết chế kiểm soát quyền lực tư pháp không thể thay thế.
Điều cần được bảo vệ ở đây là chức năng kiểm soát quyền lực, chứ không nhất thiết phải là một cơ quan cụ thể nào.
Nếu an ninh điều tra được trao thẩm quyền điều tra và VKS thực hiện chức năng kiểm sát một cách chặt chẽ, thực chất, thì chức năng kiểm soát quyền lực vẫn được bảo đảm, thậm chí có thể hiệu quả hơn nhờ sự kiểm tra chéo giữa hai hệ thống độc lập.
Thứ hai, có lo ngại rằng nếu bỏ cơ quan điều tra VKSNDTC thì khả năng phát hiện oan sai sẽ giảm. Tôi cho rằng chưa có căn cứ thuyết phục cho nhận định này.
Oan sai thường phát sinh không phải vì thiếu một cơ quan điều tra mang tên gọi đặc thù, mà vì nguồn tin tội phạm không được xử lý đầy đủ, hoạt động điều tra thiếu khách quan, hoặc kiểm sát điều tra không hiệu quả.
Vấn đề cốt lõi nằm ở chất lượng kiểm sát, chứ không phải ở việc duy trì bằng mọi giá một mô hình tổ chức cụ thể.
Thứ ba, có quan điểm cho rằng chỉ cơ quan điều tra VKSNDTC mới đủ chuyên môn điều tra nhóm tội phạm tư pháp.
Lập luận này khó đứng vững trên thực tế, bởi an ninh điều tra là cơ quan điều tra chuyên nghiệp, có hệ thống tổ chức rộng khắp, lực lượng điều tra viên dày dạn kinh nghiệm, phương tiện kỹ thuật hiện đại và bề dày xử lý nhiều vụ án phức tạp.
Về mặt chuyên môn thì các tội danh liên quan đến hoạt động tư pháp không khó đến mức chỉ có cơ quan điều tra VKSNDTC mới có thể nhận diện được.
Nếu buộc phải chọn một cơ quan duy nhất
Trong trường hợp Quốc hội cuối cùng vẫn quyết định theo hướng chỉ giao cho một cơ quan duy nhất thẩm quyền điều tra nhóm tội này, theo tôi nên giao cho Cơ quan An ninh điều tra, vì ba lý do:
Một là, điều này bảo đảm sự tách biệt tương đối rõ ràng hơn giữa chức năng điều tra và chức năng kiểm sát: an ninh điều tra thuộc hệ thống cơ quan điều tra, VKS thuộc hệ thống công tố và kiểm sát, tạo ra sự kiểm tra chéo giữa hai hệ thống quyền lực khác nhau thay vì kiểm tra nội bộ trong cùng một ngành.
Hai là, việc chuyển thẩm quyền điều tra không đồng nghĩa với việc tước bỏ vai trò của VKS - đây là điểm dễ bị hiểu lầm trong tranh luận công khai.
VKS vẫn tiếp tục kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin tội phạm; kiểm sát hoạt động điều tra; phê chuẩn các quyết định tố tụng quan trọng; và thực hành quyền công tố. Toàn bộ các chức năng hiến định của VKS vẫn được giữ nguyên vẹn.
Ba là, điều người dân thực sự cần không phải là sự tồn tại của thêm một cơ quan mang danh nghĩa chống oan sai, mà là việc mọi tố giác được thụ lý đúng bản chất, mọi hành vi vi phạm được điều tra khách quan, và mọi quyết định điều tra được kiểm sát nghiêm túc.
Nếu VKS tập trung nguồn lực, nâng cao chất lượng kiểm sát ngay từ giai đoạn tiếp nhận, xử lý tin báo tội phạm, hiệu quả phòng chống oan sai và bỏ lọt tội phạm hoàn toàn có thể được cải thiện đáng kể, hơn hẳn so với việc chỉ giữ nguyên một mô hình tổ chức vì lý do lịch sử.
Theo tôi, thay vì tiếp tục cuộc tranh luận mang tính cực đoan giữa hai thái cực "giữ nguyên" và "xóa bỏ" cơ quan điều tra VKSNDTC, tôi cho rằng hướng tiếp cận hợp lý hơn là đa dạng hóa chủ thể có thẩm quyền điều tra: duy trì cơ quan điều tra VKSNDTC, đồng thời trao thẩm quyền tương tự cho Cơ quan An ninh điều tra; cho phép người tố giác được quyền lựa chọn cơ quan thụ lý; ngăn chặn tình trạng điều tra song song bằng cơ chế xác lập thẩm quyền rõ ràng ngay từ đầu; và tăng cường thực chất vai trò kiểm sát của VKS đối với toàn bộ quá trình xử lý nguồn tin cũng như hoạt động điều tra.
Còn nếu cuối cùng chỉ có thể lựa chọn một cơ quan duy nhất, tôi cho rằng nên giao thẩm quyền điều tra các tội xâm phạm hoạt động tư pháp cho Cơ quan An ninh điều tra, đồng thời đòi hỏi VKSND thực hiện nghiêm túc và hiệu quả hơn chức năng kiểm sát ngay từ giai đoạn tiếp nhận tố giác tội phạm.
Cách làm này vừa bảo đảm cơ chế kiểm tra chéo thực chất giữa các cơ quan tố tụng, vừa tận dụng được năng lực điều tra sẵn có của hệ thống an ninh điều tra, đồng thời không làm mất đi các chức năng hiến định của Viện Kiểm sát nhân dân.
Với việc dự thảo luật dự kiến được trình Quốc hội cho ý kiến và thông qua ngay tại kỳ họp tháng 10/2026, đây là thời điểm còn đủ để các cơ quan soạn thảo cân nhắc bổ sung phương án đa trung tâm có kiểm soát như đề xuất trên, thay vì chỉ lựa chọn giữa hai thái cực chuyển giao toàn bộ hoặc giữ nguyên toàn bộ thẩm quyền điều tra cho một cơ quan duy nhất.






















